Chat Online

ĐẠI LÝ ỦY QUYỀN HÃNG: JOBST - MỸ, ASPEL - BA LAN, ALOKA - NHẬT BẢN, MICROLIFE - THỤY SĨ, HITACHI - NHẬT BẢN, ACTIMOVE - ĐỨC, PHOENIX - HÀN QUỐC, EMS - ANH QUỐC

Vai trò của Việt Nam trong hệ thống thương mại Biển Đông

Vai trò của Việt Nam trong hệ thống thương mại Biển Đông

Vai trò của Việt Nam trong hệ thống thương mại Biển Đông thời cận đại

(thế kỷ XVI – XVIII)

Hệ thống thương mại Biển Đông là một trong những mạng lưới giao thương đóng vai trò quan trọng đối với việc kết nối các nền kinh tế trong khu vực và giữa khu vực với các nước trên thế giới. Không chỉ ở giai đoạn hiện nay, khi mà vấn đề chủ quyền trên Biển Đông đang bị xáo trộn, các nước trong khu vực và trên thế giới mới quan tâm đến mạng lưới thương mại này, mà đã từ lâu trong lịch sử, từ thế kỷ thứ XVI – thế kỷ của các cuộc phát kiến địa lý mang lại bước đột phá cho ngành đi biển, thì Biển Đông đã được xem là điểm mấu chốt trong “mạng lưới thương mại nội Á”.

 

Vào thời điểm đó, Việt Nam đã được các nước phương Tây nhìn nhận không những là nước có vị trị địa chính trị mà còn giữ vị trí địa kinh tế đối với khu vực Đông Nam Á nên các Công ty Đông Ấn phương Tây thời cận đại đã chọn Việt Nam vừa là trạm trung chuyển, vừa là nơi xây dựng các thương điếm. 

Với cách tiếp cận trên, bài viết tập trung phân tích và nhận diện vai trò của Việt Nam trong hệ thống thương mại Biển Đông thế kỷ XVI – XVIII nhằm góp phần tái khẳng định vị trí của Việt Nam – vị trí đã được lịch sử ghi nhận để tháo gỡ một số vướng mắc về chủ quyền trên biển, trong bối cảnh hiện nay khi mà những tranh chấp về chủ quyền trên Biển Đông đang diễn ra gay gắt. 

1.      Hệ thống thương mại Biển Đông thời cận đại

Trước thế kỷ thứ XV, khi giao thương Đông – Tây chưa được biết đến như hệ thống thương mại chính của nền thương mại toàn cầu, thì việc giao lưu buôn bán trong khu vực châu Á đã được tiến hành trên Biển Đông. Bằng chứng là các thương gia người Hoa và người Nhật đã theo đường biển vào buôn bán ở Việt Nam. Biển Đông đã tham gia vào dòng hải thương của con đường tơ lụa trên biển, mà theo nhà nghiên cứu Chử Bích Thu trong bài viết đăng ở Việt Nam trong hệ thống thương mại châu Á thì con đường tơ lụa trên biển có từ thời nhà Hán. Chính con đường buôn bán trên biển đã tạo cho Biển Đông một vị trí quan trọng trong dòng hải thương nội khu vực. Cho đến trước thế kỷ thứ XV, các tuyến hải thương quốc tế nối Trung Quốc và các thị trường phương Nam chủ yếu đi qua khu vực vịnh Bắc Bộ, vùng duyên hải Đông Bắc Việt Nam vì thế mà có vị trí hết sức quan trọng. Trong ghi chép của của các thủy thủ và thương nhân ở các thế kỷ trước XV, vùng biển Nam Trung Hoa qua Vịnh Bắc Bộ xuống vùng bờ biển Champa có tên gọi là “Giao Chỉ Dương”, vùng biển này đã tham gia tích cực vào các hoạt động buôn bán trên biển.[1]

Đến thế kỷ thứ XV, đây được xem là thế kỷ khám phá của hai quốc gia Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha – hai quốc gia mạnh lúc bấy giờ. Bồ Đào Nha là những người đã vẽ bản đồ đầu tiên của châu Phi và con đường đi bằng thương thuyền xuống vùng biển phía Nam châu Phi. Năm 1498, Vasco de Gama vòng qua mũi Hảo Vọng và đã đến được Ấn Độ. Sau khi con đường này được khai thông, các tàu bè lớn có khả năng đi từ châu Âu đến châu Á, nơi mà trong hiểu biết của những thương gia phương Tây, đó là xứ sở của nhiều hương liệu và gia vị. Trong khi đó, người Hồi giáo đã độc chiếm con đường buôn ở Iran qua Địa Trung Hải, nên để chiếm được hương liệu, người Bồ Đào Nha phải thông qua môi giới trung gian là các lái buôn người Ả Rập. Điều đó đã làm cho giá cả các mặt hàng mà người châu Âu mua về tăng cao gấp nhiều lần so với mua trực tiếp từ các nước Đông Nam Á. Đó là một trong những nguyên nhân trực tiếp thúc đẩy người Tây Ban Nha và người Bồ Đào Nha tìm đường sang phương Đông. Theo sự phân chia của giáo hoàng La Mã với Hiệp ước Tordesilas năm 1494, Tây Ban Nha chinh phục về phía Tây bán cầu, còn Bồ Đào Nha chinh phục về phía Đông bán cầu. Theo đó, Bồ Đào Nha đã tấn công, đánh chiếm các vùng ở Viễn Đông để thiết lập các thương điếm buôn bán trên biển. Biển Đông vì thế đóng vai trò quan trọng cho người Bồ Đào Nha trong việc thiết lập “mạng lưới thương mại nội Á” (Inter- Asia)[2], nối liền các căn cứ điểm trọng yếu mà người Bồ đã thiết lập với phương Đông.

Cụ thể là vào năm 1550, người Bồ đã thiết lập con đường buôn bán trên biển giữa các nước Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, Malaya và Indonesia với nhau. Thường xuyên nhất là các chuyến tàu đi từ Malacca đến Macao, từ Hội An đi Macao, từ Hội An đi Malaya[3], vì hành trình này rút ngắn được khoảng cách cũng như thời gian. Cụ thể  như tàu đi từ Hội An đến Macao chỉ mất 9 ngày, từ Hội An đi Malacca mất 20 ngày. Ngoài các chuyến tàu thường xuyên trên, thì phần lớn các chuyến tàu buôn của Bồ Đào Nha từ Ấn Độ đi Nhật Bản, đi Trung Quốc đều đi qua Biển Đông bởi lẽ các thương gia cho rằng, đi qua Biển Đông lặng gió và an toàn. Vì lý do đó, mà Biển Đông trở thành con đường đi chính yếu trong mạng lưới thương mại của các thương gia Bồ Đào Nha ở phương Đông từ sau các cuộc phát kiến địa lý đến thế kỷ thứ XVII.

Đến nửa sau thế kỷ thứ XVII, khi các thương thuyền Bồ Đào Nha không còn chiếm vị trí độc quyền ở phương Đông, cùng với sự nổi lên của các Công ty Đông Ấn Hà Lan, Công ty Đông Ấn Anh đã góp phần gia tăng tuyến hàng thương mại ở Biển Đông. Hai mặt hàng quan trọng đươc sử dụng trong buôn bán trao đổi thời bấy giờ là bạc nén (tiền đúc) và tơ lụa đã được các thương lái vận chuyển từ Nhật Bản đi Hội An, từ Hội An đi Trung Quốc.

Loại tiền đúc Công ty Đông Ấn Hà Lan  đem đến Đàng Trong (1633-1637)[4]

 

Năm

Loại tiền

Larack

Sacca-motta

Mito

Nume

Tam-mary

Không xác định được

Tổng cộng

1633

930

15.420

-

-

-

-

16.530

1634

360

9.724

-

-

-

-

10.084

1635

-

41.625

-

-

-

-

61.625

1636

-

5.585

-

5.250

-

2.865

13.500

1637

-

-

2.505

-

510

21.260

24.275

Tổng cộng

1.290

72.154

2.505

5.250

510

24.125

105.951

Tiếp sau Anh và Hà Lan, đến cuối thế kỷ XVII, người Pháp cũng cố gắng thiết lập ảnh hưởng của mình ở phương Đông trong đó Đông Dương là địa điểm được người Pháp lựa chọn, và dĩ nhiên Biển Đông lại một lần nữa tham gia vào hệ thống thương mại mà người Pháp muốn có ở Viễn Đông.

 Qua việc phát hiện các con tàu đắm ở Việt Nam trong thời gian gần đây  như việc tìm thấy các con tàu đắm ở Cù Lao Chàm, tàu đắm Hòn Dầm niên đại cuối thế kỷ XV, tàu đắm Bình Thuận (1573 – 1620), tàu đắm Hòn Cau (1690), tàu đắm Cà Mau (1723 – 1735)… với nhiều loại hàng hóa, cho thấy Biển Đông đã tham gia vào dòng chảy thương mại thời cận đại.

Rõ ràng là thế kỷ thứ XVI – XVIII, thương mại Biển Đông là con đường chính nối liền các trung tâm thương mại lớn mà các thương gia phương Tây đã thiết lập ở phương Đông, và cả thương mại trong nội khu vực. Chính trong bối cảnh đó, Việt Nam đã đóng vai trò vừa là trạm trung chuyển cho các chuyến hải thương, vừa là cứ điểm dừng chân xây dựng các thương điếm mà Công ty Đông Ấn đã chọn lựa. Các thương nhân phương Tây trên hành trình tìm đến phương Đông huyền bí và giàu có, ngay từ thế kỷ thứ XVI, họ đã nhận diện Việt Nam là một cứ điểm trọng yếu, là một trung tâm thương mại châu Á, từ đây có thể xác lập những bước tiến trong việc xâm nhập châu Á lục địa.

2.      Vai trò của Việt Nam trong hệ thống thương mại Biển Đông thời cận đại

2.1. Việt Nam trong vai trò là trạm trung chuyển trên các dòng hải thương khu vực và quốc tế.

Theo Hoàng Anh Tuấn trong Người Việt với biển, tác giả cho rằng trước thế kỷ XV, gốm sứ Việt Nam phát triển mạnh mẽ trong các dòng hải thương, điều đó được khẳng định thông qua các con tàu đắm được khai quật tại khu vực phía Nam miền Trung Việt Nam.

Nhưng đến đầu thế kỷ XVI, khi người Bồ đến và xâm nhập vào Ấn Độ, cụ thể tại Goa (1510), đến Malacca (1511), sau đó tìm đến Trung Quốc và Nhật Bản, thì cấu trúc hải thương quốc tế khu vực Biển Đông đã có nhiều thay đổi. Thay vì trước đây, gốm sứ Việt Nam là mặt hàng chính trong các chuyến đi biển, thì việc Công ty Hoàng gia Bồ Đào Nha (Estado da Inda) xây dựng mạng lưới thương mại liên Đông Á đã lôi kéo sự thu hút thương mại từ Việt Nam đến Goa, Macao và Malacca, từ đây Việt Nam là trạm trung chuyển, hay là trạm dừng chân của các chuyến hàng đi biển, vì thế con đường hải thương từ Malacca đến Trung Quốc và Nhật Bản có lộ trình sát bờ biển Việt Nam[5]. Điều cần nhận thấy là khi đi qua vùng biển Việt Nam, hai địa điểm mà các thương nhân thường chọn để dừng chân là Côn Đảo và Cù Lao Chàm. Qua một số tư liệu của người Bồ Đào Nha  trong sách Les Portugais sur les cotes du Viet-Nam et du Champa (Người Bồ Đào Nha thâm nhập Việt Nam và Champa của Pierre-Yves Manguin) cho thấy người Bồ Đào Nha đến Cù Lao Chàm khoảng năm 1516 “Sau lần tiếp xúc đầu tiên với người Chăm và người Việt vào năm 1516, một « sự khám phá » chính thức với Đàng Trong đã được tiến hành vào năm 1523.[6] Họ di chuyển theo hành trình của gió mùa, từ tháng 3 đến tháng 9 là sáu tháng gió thổi từ Nam lên Bắc, từ tháng 9 đến tháng 12 là ba tháng gió thổi từ Bắc xuống Nam, đó chính là hải trình của các đoàn thuyền buôn[7]. Số lượng tàu đến cập bến trung chuyển có số lượng tương đối “các năm trước, thuyền ngoại dương đến buôn bán, mỗi năm chừng sáu bảy chiếc, năm nay, số thuyền lên tới mười sáu, mười bảy chiếc”[8].

Việt Nam từ chỗ đóng vai trò là dòng chảy chính của hoạt động thương mại biển khu vực Đông Nam Á đến việc là trạm dừng chân để trung chuyển hàng hóa, là do các nguyên nhân sau.đây: Thứ nhất, mặt hàng chính trong việc buôn bán giữa các thương gia nước ngoài với Việt Nam, ngoài trầm hương và ngà voi được ghi trong Phủ Biên tạp lục, thì mặt hàng mà các thương nhân rất quan tâm đó là gốm sứ. Nhưng từ sau thế kỷ thứ XV, mặt hàng gốm sứ của Việt Nam đã có những suy giảm “mậu dịch gốm sứ quốc tế đã có sự thay đổi mạnh từ giữa thế kỷ XVI và tác động không nhỏ đến Đại Việt. Nếu như chính sách Hải cấm của nhà Minh trong các thế kỷ XIV và XV đã tạo điều kiện rất lớn cho gốm sứ Đông Nam Á (gốm hoa nâu và Chu Đậu của Đại Việt, gốm Gò Sành của Chămpa, gốm Sawankhalok của Siam…) phát triển và chi phối luồng gốm sứ thương mại khu vực quốc tế, việc bãi bỏ chính sách đóng cửa của nhà Minh vào năm 1567 đồng thời đặt dấu chấm hết cho kỷ nguyên gốm sứ thương mại Đông Nam Á sau khi gốm sứ Trung Quốc chiếm lĩnh thị trường[9].

Thứ hai, Bồ Đào Nha vào phương Đông cùng với việc xác lập hệ thống thương mại Bắc – Nam ở khu vực Biển Đông và biển Nam Trung Hoa, việc Tây Ban Nha xâm nhập Philippines định cư buôn bán ở đây, và việc thương nhân Trung Quốc, điển hình là thương nhân Phúc Kiến, khai mở và phát triển mạnh mẽ tuyến hải thương nam Trung Quốc – Philippines – Đông Nam Á đã làm thay đổi cấu trúc dòng hải thương khu vực. Do đó, Việt Nam giai đoạn này trở thành trạm trung chuyển trong các chuyến hành trình đi biển Bắc – Nam và ngược lại.

Thứ ba, là nguyên nhân nội tại của Việt Nam, chính quyền phong kiến không còn vững mạnh để bảo hộ cho các hoạt động buôn bán. Việc nhà Mạc lên nắm quyền thay thế nhà Lê cùng với những mâu thuẫn trong nội bộ, và sau đó là sự nắm quyền của chính quyền Lê – Trịnh đã làm cho Việt Nam giảm dần vai trò trong dòng hải thương Biển Đông vào thế kỷ XV – XVI.

2.2. Việt Nam đóng vai trò là nơi xây dựng các thương điếm từ giữa thế kỷ XVII đến XVIII.

 Nếu như vào các thế kỷ XV – XVI, Việt Nam là trạm trung chuyển cho các đoàn thuyền buôn ngang qua Biển Đông, thì đến thế kỷ XVII, Việt Nam đã là nơi xây dựng các thương điếm sầm uất của những thương gia nước ngoài, của cả phương Tây (Công ty Đông Ấn Anh và Hà Lan, muộn hơn là Pháp) và phương Đông (người Hoa và người Nhật).

Một số thương điếm tiêu biểu mà các thương nhân đã xây dựng ở Việt Nam vào thế kỷ XVII, như thương điếm Thăng Long – Kẻ Chợ của thương nhân Hà Lan, Phố Hiến và Domea của Anh, về sau Pháp kế thừa; thương cảng Faifo (Hội An) của người Hoa và người Nhật. Trong đó, Thăng Long – Kẻ Chợ là trung tâm thương mại của Hà Lan và Anh ở Đàng Ngoài, khi Công ty Đông Ấn Hà Lan (1601) và Công ty Đông Ấn Anh (1600) thành lập, họ đã đến Đàng Ngoài và buôn bán tại đây. Kẻ Chợ là các phố ở kinh thành Thăng Long, đây là thương điếm sầm uất bậc nhất lúc bấy giờ. Người Hà Lan và người Anh đã lấy nơi này làm trung tâm giao thương với chúa Trịnh. Chúa Trịnh đã tạo điều kiện thuận lợi để các thương nhân được hoạt động tại khu vực này. Nhờ sự phát triển của Kẻ Chợ - Đàng Ngoài mà nền sản xuất hàng hóa của Đại Việt của chúa Trịnh trở nên đa dạng, phong phú. Những mặt hàng vừa xuất khẩu để các thương nhân nước ngoài mang về theo các thuyền buôn. Ngược lại các chúa Trịnh cũng mua được các mặt hàng từ thương điếm này.

Danh mục tàu của Công ty Đông Ấn Hà Lan đến Đàng Ngoài

(1637 – 1646)[10]

Năm

Tên tàu

1637

Grol (và một thuyền nhỏ từ Đài Loan)

1638

Zandvoort; Waterlooze Verve; Wijdenes

1639

Rijp; Lis; Waterlooze Verve

1640

Lis; Engel; Rijp

1641

Meerman (2 chuyến); Klein Rotterdam

1642

Kievit (2 chuyến); Brack (2 chuyến); Kelang; Kievit; Wakende Boei; Meerman (2 chuyến); Zeeuwsche Nachtegaal

1643

Kievit; Wakende Boei; Zeeuwsche Nachtegaal; Wijdenes; Zandvoort; Lillo; Waterhond; Vos; Jonge Zaaier 

1644

Leeuwarden; Zwarte Beer; Bresken

1645

Gulden Gans; Zwarte Beer; Hillegaersbergh

1646

Zwarte Beer

 

Phố Hiến và Domea là hai nơi mà các thương nhân các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Siam và phương Tây thông qua các Công ty Đông Ấn Hà Lan, Công ty Đông Ấn Anh, Công ty Đông Ấn Pháp… đến  để tiến hành các hoạt động buôn bán, thiết lập cơ sở thương mại.

Cùng với hệ thống cảng biển và cảng cửa sông, việc hình thành hệ thống cảng sông nằm sâu trong đất liền không chỉ cho thấy những chuyển biến mạnh mẽ của nền kinh tế trong nước mà còn thể hiện chính sách kinh tế tự chủ, tương đối khoáng đạt của chính quyền Lê - Trịnh Đàng Ngoài. Sự phát triển của hệ thống cảng sông đã dẫn đến sự chuyển dịch một bộ phận của trung tâm mậu dịch Đàng Ngoài từ các cảng biển vào sâu trong đất liền, gần kề với kinh đô Thăng Long, các vùng kinh tế và làng nghề[11].

Do có vị trí tương đối thuận lợi, lại chỉ cách thành Thăng Long (Kẻ Chợ), khoảng 50km, Phố Hiến đã thiết lập một mối quan hệ mật thiết với kinh đô Thăng Long và một số cảng biển, trung tâm kinh tế khác của khu vực. Nằm ở khu vực ngã ba sông Thái Bình, sông Luộc, Đò Mè, vùng Domea là một trong những cửa ngõ chính để đón nhận trực tiếp sản phẩm dệt, tơ lụa từ Kinh Bắc và gốm sứ của hệ thống lò nổi tiếng như Chu Đậu, Hợp Lễ, Mĩ Xá, Cậy, Ngói, Lão… Domea đã từng đóng vai trò quan trọng là một cảng tiếp nhận và luân chuyển hàng hóa chính yếu của hệ thống thương mại Đàng Ngoài. Từ khu vực này, hàng từ tàu buôn phương Tây (trong đó có cả vũ khí, tiền đồng và bạc…) và một số quốc gia châu Á đã được chuyển lên Phố Hiến, Thăng Long… để đổi lấy và nhận về những sản phẩm nổi tiếng của các làng buôn, hàng thủ công, nguồn lâm thổ sản phía Bắc.

Cũng giống như Phố Hiến, Domea là một cảng thị mở, không có thành quách, hào lũy bao bọc như những cảng thị khác. Cuộc sống của cư dân vùng cảng sông gắn bó với những biến đổi tự nhiên và hoạt động kinh tế diễn ra trong mạng lưới giao thương đa chiều. Vào những thế kỷ XVI - XVII, Phố Hiến và Domea là những tiền cảng của Thăng Long, có sự phân chia rõ rệt chức năng trong giao lưu quốc tế và hoạt động của Đàng Ngoài. Phố Hiến không có quy mô lớn như Thăng Long nhưng cũng là nơi có nhiều người dân và thợ thủ công sinh sống “Người Đàng Ngoài biết nhiều nghề thủ công buôn bán vì thế có rất nhiều thương nhân và thợ thủ công như: thợ rèn, thợ mộc, xẻ, tiện, dệt, gốm, thợ vẽ, người đổi tiền, thợ làm giấy, làm sơn mài, đúc chuông… Đổi tiền là một ngành kinh doanh thật sự ở đây, việc này do phụ nữ đảm nhận, họ rất khéo léo và thành thạo nghề nghiệp”[12]. Domea được xem là tiền cảng của Phố Hiến với chức năng điều tiết hàng hóa và đảm đương kiểm soát vùng cửa sông. Những hoạt động giao dịch đã được thực hiện ngay ở khu vực trước cửa sông, trước khi tàu thuyền vào sâu trong các nội địa.

Ngoài phố Hiến và Domea ở miền Bắc thì Hội An (Faifo) là một đô thị, thương cảng ở miền Trung hình thành vào cuối  thế kỷ XVI - XVII. Nằm bên bờ sông Thu Bồn, Hội An có vị trí giao thương thuận tiện giữa miền thượng du và đồng bằng Quảng Nam. Hội An rất gần với cửa biển Đại Chiêm và không xa dinh trấn Quảng Nam, thủ phủ thứ hai của Đàng Trong. Theo những ghi chép của giáo sĩ Christophoro Borri thì trong khu vực quản lý của chúa Nguyễn có đến khoảng 60 cảng. Hội An khi đó thuộc Quảng Nam, Christiphoro nhận xét rằng: “Đây là cảng đẹp nhất có nhiều sản vật quý hiếm mà tất cả những người ngoại quốc đều ghé thăm”. Về hoạt động ngoại thương, C.Borri cũng ghi lại: “Người Trung Quốc và người Nhật Bản là những người làm thương mại chính yếu ở xứ Đàng Trong tại một phiên chợ họp hằng năm ở một hải cảng và kéo dài chừng khoảng bốn tháng. Người Nhật chở trên thuyền của họ giá trị bằng bốn đến năm triệu bạc, còn người Trung Quốc chở trong thuyền của họ rất nhiều thứ lụa mịn và nhiều thứ hàng hóa khác của xứ họ”[13]. Trong thời gian từ 1641 – 1648, khối lượng hàng hóa buôn bán giữa Việt Nam với các thương gia nước ngoài tăng từ 100.000 jin (50 tấn) đến 150.000 jin (75 tấn)[14].

Hàng hóa xuất nhập khẩu tiêu biểu ở Hội An thế kỷ XVII[15]

Xuất khẩu

Nhập khẩu

Hồ tiêu, đường, gỗ, các loại hương liệu, quế, yến sào, sừng tê, ngà voi, vàng, tơ lụa, cá khô, gạo, hạt cau, chè, trái cây, trầm hương, gỗ mun, tổ yến, hổ phách, hạt trai, kỳ nam, vải, long não, lô hội, da cá mập, mật ong, song mây…

Đồng, kẽm, diêm sinh, vải vóc, gấm lụa, đồ trang sức, thuốc bắc, bát đũa, sành sứ, giấy, tiền đồng, súng ống…

 

Ngoài việc đến đây buôn bán, người Nhật còn là môi giới, phiên dịch cho các lái buôn nước khác trong dịch vụ thương mại người Việt. Tuy nhiên, từ giữa thế kỷ XVII, do chính sách “tỏa quốc” của chính quyền Mạc Phủ, vai trò của thương nhân Nhật Bản ở Hội An giảm dần, nhường chỗ cho thương nhân người Hoa.

Như vậy, sự thịnh đạt của thương cảng Hội An không chỉ là do có vị trí địa lý thuận lợi mà còn là sự phong phú của các nguồn tài nguyên khoáng sản như kim loại và trữ lượng lâm sản. Ngoài ra, vùng núi còn là nơi sinh sống của voi, tê giác  là những sản phẩm quý hiếm được các thương nhân châu Âu ưa chuộng... Khu vực phụ cận Hội An cũng có những sản phẩm như đường phèn, hồ tiêu đặc biệt là yến sào. Hội An thật sự là nơi tập trung các đặc sản quý hiếm được thương nhân nhiều nước thèm muốn[16].

Ngoài những thương điếm tiêu biểu mà thương nhân nước ngoài xây dựng ở Việt Nam vào những thế kỷ XVII – XVIII, thì dọc các cảng biển kéo dài từ Bắc vào Nam, đều diễn ra các hoạt động buôn bán giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và quốc tế thông qua con đường buôn bán trên Biển Đông. Nhờ đó, Việt Nam đã hình thành một hệ thống cảng biển dọc từ Bắc vào Nam để hòa nhập vào quá trình bùng nổ thương mại thời cận đại cũng như của quá trình giao lưu Đông – Tây.

3. Một vài nhận xét, kết luận

Có thể khẳng định, thời kỳ cận đại, đã hình thành một hệ thống thương mại  nối liền Đông – Tây, và Biển Đông là dòng chảy không thể thiếu trong các chuyến hải thương. Biển Đông đóng vai trò nối liền các trung tâm thương mại Bắc – Nam mà các thương gia trong khu vực cũng như quốc tế đã xây dựng ở Trung Quốc, Nhật Bản và Đông Nam Á.

Qua việc phát hiện các con tàu đắm ven bờ biển Việt Nam, cho thấy vùng biển thuộc sự quản lý của Việt Nam đã từng diễn ra các hoạt động thương mại rất sôi động, đặc biệt là buôn bán gốm sứ.

Dựa trên dòng chảy của các chuyến thuyền đi biển, người phương Tây đã  xác định một số đảo thuộc chủ quyền Việt Nam ngay từ thời cận đại, bằng chứng là họ đã dừng lại các đảo của Đại Việt để cung cấp thêm củi đốt, lương thực và nước ngọt. Đồng thời với điều đó, Việt Nam đã tham gia vào các hoạt động buôn bán như một mắt xích không thể thiếu trong mạng lưới thương mại châu Á.

Từ chỗ Việt Nam giữ vai trò là trạm trung chuyển trên con đường buôn bán thương mại khu vực và quốc tế thế kỷ XV, XVI đến chỗ thiết lập các thương điếm  thế kỷ XVII, XVIII đã chứng tỏ vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Điều này rất đúng với nhận định của nhà nghiên cứu trần Đình Gián trong công trình Địa lý Việt Nam khi cho rằng “vị trí của Việt Nam càng nổi rõ như một điểm tiếp tuyến trên con đường giao thông quốc tế huyết mạch từ Viễn Tây sang Viễn Đông, theo đường biển liên đại dương, gần như con đường dài nhất và cơ bản nhất vòng quanh địa cầu (từ Đại Tây Dương qua Địa Trung Hải, Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương) nối liền các khối nhân loại đông đúc nhất và năng động nhất[17]”, Việt Nam đã lấy lại vị trí của mình, và trở thành nơi xây dựng các trung tâm thương mại ven biển, đóng góp vào sự sôi động của thương mại Biển Đông thời cận đại.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.      Trần Đình Gián (1990) (Chủ biên), Địa lý Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội. 

2.      Kikuchi Seiichi (2010), Nghiên cứu Đô thị cổ Hội An, NXB Thế giới, Hà Nội.

3.      Nguyễn Văn Kim (2007), “Vị trí của Phố Hiến và Domea trong hệ thống thương mại Đàng Ngoài”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, (số 4), Tr. 21 – 34.

4.      Nguyễn Văn Kim (2011) (Chủ biên), Người Việt với biển, NXB Thế giới, Hà Nội.

5.    Đào Thị Hải Lý (2010), Quan hệ thương mại Đàng Trong với Trung Quốc và Nhật Bản, LV Thạc sĩ.

6.      Manguin, Pierre-Yves (1972), Les Portugais sur les cotes du Viet-Nam et du Champa, L’école Française d’Extrême-Orient, Paris.

7.    Thích Đại Sán (1963), Hải ngoại sử ký, Viện Đại học Huế xuất bản.

8.      Hoàng Anh Tuấn (2010), Tư liệu các công ty Đông Ấn Hà Lan và Anh thế kỷ XVII, NXB Hà Nội.

 

 

 



[1] Nguyễn Văn Kim (chủ biên), Người Việt với biển, Tr.144.

[2] Chữ dùng của Hoàng Anh Tuấn, Tư liệu Công ty Đông Ấn Anh và Hà Lan thế kỷ XVII, NXB Hà Nội.

[3] Xem thêm bản đồ.

[4] Hoàng Anh Tuấn, Tư liệu Công ty Đông Ấn Anh và Hà Lan thế kỷ XVII, NXB Hà Nội.

[5] Chú thích bằng Bản đồ hải thương: Trong Manguin, Pierre-Yves, Les Portugais sur les cotes du Viet-Nam et du Champa, L’école Française d’Extrême-Orient, Paris, 1972. Phần phụ lục số 2, tên gọi Carte comparative des routes de F. Rodrigues et de Wou pei iche.

[6] Manguin, Pierre-Yves (1972), Les Portugais sur les cotes du Viet-Nam et du Champa, L’école Française d’Extrême-Orient, Paris, Tr. 3. « Après des premiers contacts fortuits avec les côtes cam et vietnamiennes en 1516, la « découverte » officielle de la Cochinchine se fera en 1523. » 

[7] Xem thêm bản đồ hải đồ.

[8] Thích Đại Sán (1963), Hải ngoại sử ký, Viện Đại học Huế xuất bản.

[9] Hoàng Anh Tuấn, trong Người Việt với biển, Tr.151, NXB Hà Nội, 2011.

[10] Hoàng Anh Tuấn, Tư liệu Công ty Đông Ấn Anh và Hà Lan thế kỷ XVII, NXB Hà Nội

[11] Nguyễn Văn Kim (2007), “Vị trí của Phố Hiến và Domea trong hệ thống thương mại Đàng Ngoài”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, (4), Tr. 21-34.

[12] Nguyễn Văn Kim (2007), “Vị trí của Phố Hiến và Domea trong hệ thống thương mại Đàng Ngoài”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, (4), Tr. 21-34.

[13]  Kikuchi Seiichi (2010), Nghiên cứu Đô thị cổ Hội An, Nxb Thế giới, Hà Nội.

[14] Đào Thị Hải Lý, Quan hệ thương mại Đàng Trong với Trung Quốc và Nhật Bản, LV Thạc sĩ 2010.

[15] Thu thập từ Đào Thị Hải Lý, Quan hệ thương mại Đàng Trong với Trung Quốc và Nhật Bản, LV Thạc sĩ 2010.

[16]  Kikuchi Seiichi (2010), Nghiên cứu Đô thị cổ Hội An, Nxb Thế giới, Hà Nội.

[17] Trần Đình Gián, Địa lý Việt Nam


share:

Đăng nhập để bình luận